Tìm hiểu bệnh nhuễn xương và bệnh Paget

BỆNH NHUYỄN XƯƠNG

Bệnh gây nên do tình trạng thiểu năng sự cốt hóa của xương: ở trẻ em, biểu hiện bằng các triệu chứng còi xương; ở người lớn, biểu hiện bằng các triệu chứng: đau ở đốt sống, hạn chế tầm vận động của cột sống.

X quang: trên phim X quang có hình ảnh “già gãy xương” biểu hiện bằng vệt sáng rộng 1 – 2mm chạy qua đốt sống, hình đốt sống cản quang mờ nhạt. Có thể thấy hình ảnh nhuyễn xương này ờ các xương khác như: xương bả vai, xương sườn ở ngành ngồi – mu của xương chậu, v.v…

Bệnh này chủ yếu là dùng phương pháp điều trị nội khoa.

Còi xương ở trẻ
  • Vitamin D:

+ Sterogyl giọt: XXV đến L giọt/mỗi ngày, lúc 10.000 đến 20.000 đơn vị mỗi ngày, hoặc tốt hơn, dùng

+ Sterogyl A 15mg: uống 1 ống mỗi tuần, với liệu trình kéo dài cho tới khi khỏi lâm sàng và calci niệu trong 24 giờ trở về mức bình thường (giữa 80 đến 100mg/24 giờ).

Trường hợp nhuyễn xương căn nguyên tiêu hoá, đôi khi phải dùng Vitamin D với liều cao hơn (tới 500.000 đơn vị/ ngày).

Cần phải điều trị củng cố sau khi khỏi bệnh, nhất là căn nguyên nhuyễn xương còn tồn tại: sterogyl A 15mg: mỗi tháng uống 1 ống trong 6 tháng.

  • Phospho-calci: rất cần thiết, có thể cho:

+ Calcium Sandoz “forte”: 2 đến 4 viên /ngày,

+ Phosphore Sandoz “forte” 1 đến 2 viên/ngày.

  • Dinh dưỡng: cần có chế độ ăn giàu calci (sữa, pho mát…) và các loại rau quả.
  • Trường hợp nhuyễn xươngdo các thuốc chống co giật và suy thận mạn thể tổn thương nhuyễn xương, có thể dùng:

+ Dedrogyl (Roussel) (25-OH-cholecalciforol) hoặc

+ Sterogyl: X – XXV giọt/ ngày cho người lớn và tùy theo xét nghiệm chức năng sinh học một cách chặt chẽ cho trường hợp nhuyễn xương do thiếu dinh dưỡng và tiêu hoá.

  • Cần đồng thời điều trị chứng đi tiểu phân mở có thể xảy ra.

BỆNH PAGET

Bệnh xảy ra do tăng quá mức tình trạng tạo xương và phân rã xương, làm cho xương bị thưa, mềm, biến dạng và phì đại.

Nguyên nhân đa số trường hợp không xác định rõ  có tác giả cho rằng bệnh do virus gây nên (Rebel, 1982).

Tổn thương hay xảy ra ờ các đốt sống ngực và thắt lưng, có thể thấy ở xương chậu, xương sọ, xương đùi, v.v…

Lâm sàng: biểu hiện cũng như các bệnh lý kể trên, chủ yếu là đau cột sống lưng, cảm giác đau sâu trong xương sống, đau tiến triển từng đợt.

X quang: biểu hiện bệnh lý điển hình trên phim X quang là: dốt sông bè rộng theo chiều ngang, xương xốp rất thưa, có thể thấy bờ viền dày đậm.

Xét nghiệm máu: nồng độ phosphatase alcaline tăng cao.

Điều trị bệnh Paget cũng như bệnh nhuyễn xương, chủ yếu là điều trị triệu chứng: giảm đau, an thần… Đê tăng cường khả năng chống đỡ của cột sống, có thể dùng đai đai cột sống lưng hoặc thắt lưng.

Các triệu chứng của bệnh Paget xương

Thuốc giảm đau: aspirin: 2 – 3g/ngày,

+ Indocid: 75 – 100 mg/ngày.

+ Calcitonin có tác dụng ức chế quá trình tiêu xương, cần được sử dụng trong giai đoạn hoạt động của bệnh.

Liều lượng phải cho tương đối cao:

  • Calcitar: 50 đến 60 dơn vị M.R.C. tiêm báp, hoặc
  • Calsvn: 50 UI tiêm bắp, hoặc
  • Miacalcic: 80 UI tiêm bẩp hay dưới da

Cho tiêm một trong 3 thuốc trên hàng ngày hoặc cách nhật trong 4 đến 8 tuần, sau đó cho giảm liêu thưa dán lần tiêm trong những tuần tiếp theo.

Ngoài ra hiện nay còn có các biệt dược khác như sau:

Cibacalcin (Thụy Sĩ) và staporox (Pháp cũng có hoạt tính như calcitonin. Các thuốc trên có tác dụng đặc biệt với những chứng đau căn nguyên từ xương (không phai dau do các biến dạng và bệnh thấp khớp của Paget) và với các rối loạn vận mạch.

Nên tránh dùng calcitonm cho trẻ em, phụ nữ có thai và cho con bú.

  • Gần đây người ta cho dùng các thuốc loại diphosphonates đã nhận thấy có hiệu quả tốt đối với các thể rải rác, tiến triển và trong các dợt dau xương:

+ Didronel: 5mg/kg/ngày, hoặc nói chung mỗi ngày 2 viên 200mg (uống một lần với nước, 2 giờ trước bữa ăn) trong 6 tháng. Nếu dùng với liều cao hơn sẽ dẫn tới chứng nhuyễn xương.

  • Trường hợp hẹp đốt sống-, cần kết hợp điều trị ngoại khoa với chuyên khoa thần kinh: nằm nghĩ, dùng các thuốc giảm đau, đôi khi phải deo dai lưng.

Trường hợp có biến chứng gãy xương không hoàn toàn ở đỉnh của đoạn uốn cong của xương (đặc biệt ở xương chày) thì cần được phát hiện (đau tại chỗ đội lên): cho bệnh nhân nằm nghỉ và điều trị tích cực nội khoa (trừ diphosphonates, bây giờ là chống chỉ định).

(Visited 4 times, 1 visits today)